Thịt bò khô, hay còn được gọi là bò gác bếp là một món ăn truyền thống của đồng bào vùng cao nay đã trở thành đặc sản ăn ưa thích của người miền xuôi
1. Bò khô – Món đặc sản được yêu thích tại Việt Nam
Thịt bò khô ra đời từ cách bảo quản, dự trữ thịt bò, trâu, lợn của đồng bào vùng cao từ hàng trăm năm nay. Trong các dịp lễ, tết và cúng tế, người dân vùng cao thường mổ thịt trâu, bò, lợn làm thực phẩm. Thịt dư thừa, không có tủ lạnh như ngày nay để bảo quản, người vùng cao đã cắt thịt thành miếng, tẩm ướp gia vị rồi gác lên bếp để diệt khuẩn, hong khô, sử dụng lâu dài.

2. Nguồn gốc và lịch sử của món bò khô
2.1 Phương pháp chế biến truyền thống
Cách bảo quản thịt trâu, bò này đảm bảo an toàn, thực phẩm rất thơm, ngon. Người miền xuôi lên miền ngược công tác, thấy thịt bò khô ngon nên mua về làm quà. Rồi món thịt bò khô đã trở thành món ăn khoái khẩu của người dân miền xuôi, nhất là dịp Tết Nguyên đán.

2.2 Sự phát triển của bò khô trong ẩm thực hiện đại
Ở Quan Hóa, thịt bò khô đã trở thành hàng hóa. Đến với người tiêu dùng ở nhiều tỉnh, thành trong nước. Hầu hết ở các xã vùng cao ở Quan Hóa đều có các cơ sở. Hộ gia đình sản xuất món bò gác bếp bán ra thị trường.
Gia đình ông Hà Văn Thuyền, khu Khằm. Cũng theo ông Thuyền, giá bò khô hiện nay được bán với giá 1 triệu đồng/kg. Ông Thuyền cho biết, để làm bò ngon, phải chọn bò bản địa, thịt bò loại 1. Mỗi con bò cũng chỉ chọn được từ 20 – 22 kg thịt để làm món đặc sản này. Sau khi mang thịt về, thịt được rửa sạch, cắt thành miếng dài 20 – 25 cm. Sau đó, thịt được tẩm gia vị và ướp khoảng 3 giờ đồng hồ.

Từng miếng thịt sau đó được buộc dây để phơi dưới nắng nhẹ. Ngày phơi nắng, đêm cho vào khu bếp, củi được đốt bên dưới trong nhiều giờ để hong thịt. Quy trình này kéo dài liên tục từ 5 – 7 ngày cho tới khi thịt khô cong. Có mùi vị thơm ngon.

Ông Thuyền cũng sắm lò sấy điện để thử nghiệm thay thế bếp củi và phơi nắng. Nhưng cách làm này bò khô không thơm ngon như cách truyền thống của người vùng cao.


